1.1. QUAN ĐIỂM DẠY HỌC

Mô hình 3 bình diện về dạy học (3 dimensions of teaching) biểu diễn mối quan hệ của Quan điểm dạy học (teaching approach), Phương pháp dạy học (teaching method) và Kĩ thuật dạy học (teaching technique) (Anthony, 1963). Mô hình cho thấy việc xác định phương pháp và kĩ thuật dạy học cần dựa trên cơ sở của quan điểm dạy học, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ các quan điểm dạy học hiện hành để lựa chọn phù hợp với các điều kiện thực tiễn.

1.1.1. Các lí thuyết học tập

Các nhà tâm lí học giáo dục đã đề xuất nhiều lí thuyết về học tập (learning theory), trong đó có 3 thuyết nổi bật nhất, vẫn được xem xét và áp dụng trong dạy học đến hiện nay, bao gồm: thuyết Hành vi (Behaviorism), thuyết Nhận thức (Cognitivism) và thuyết Kiến tạo (Constructivism). Theo Agarkar (2019), lí thuyết mới ra đời khắc phục các hạn chế của thuyết cũ, tuy nhiên không loại trừ hoàn toàn, và cả 3 lí thuyết này vẫn nên được áp dụng trong dạy học hiện nay, tuỳ thuộc vào yêu cầu và điều kiện dạy học. Sơ đồ bên cạnh tóm tắt sự giống nhau và khác nhau của 3 lí thuyết học tập này.

Thuyết Hành vi (Behaviorism)

Thuyết hành vi được ứng dụng trong dạy học qua các phương pháp sau (Agarkar, 2019):

Thuyết Nhận thức (Cognitivism)

Thuyết Nhận thức ứng dụng trong dạy học: Kiến thức mới cần được kết nối với các kiến thức cũ, do đó các bài giảng cần được sắp xếp tuyến tính (step-by-step manner), từ tổng quát đến chi tiết. Một số phương pháp vận dụng thuyết Nhận thức như:

Thuyết Kiến tạo (Constructivism)

1.1.2. Các quan điểm dạy học hiện đại

Dạy học tích cực (Active learning)

Một số điều cần lưu ý trong dạy học tích cực (Cornell University, 2023):

Dạy học lấy học sinh làm trung tâm (Student-centered learning)

Đối với quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm (SCL), HS và GV hợp tác quyết định và xây dựng kế hoạch học tập phù hợp nhu cầu của bản thân HS. Các thành tố của quan điểm này bao gồm:

(Harrington & DeBruler, 2019)

Hệ thống giáo dục theo tín chỉ ở các trường đại học (Choice Based Credit System) được xây dựng dựa trên quan điểm này.

Dạy học phát triển năng lực (Competency-based learning)

Năng lực là thuộc tính cá nhân

Dạy học phát triển năng lực tập trung vào khả năng hoàn thành các yêu cầu đầu ra của HS. Việc đánh giá HS cũng dựa vào các tiêu chuẩn năng lực đã đặt ra. (Henry et. al., 2017)

Do đặc điểm của "năng lực" mang tính "tổng hợp" và "thực thi", để phát triển năng lực cho HS thì GV cần sử dụng các phương pháp dạy học theo các định hướng sau:

(Minh & Hoa, 2020)

STEM/STEAM/BSTEAM

Updating...

Tài liệu tham khảo

Agarkar, S. C. (2019). Influence of learning theories on science education. Resonance, 24(8), 847-859.

Anthony, E.M. (1963). Approach, Method and Technique. English Language Teaching, 17.

Center for Teaching Innovation - Cornell University (2023). Active Learning. Retrieved from https://teaching.cornell.edu/teaching-resources/active-collaborative-learning/active-learning

Harrington, C. & DeBruler, K. (2019, October 22). What Exactly IS Student-Centered Learning? [Blog post]. https://michiganvirtual.org/blog/what-exactly-is-student-centered-learning/

Henri, M., Johnson, M. D., & Nepal, B. (2017). A review of competency‐based learning: Tools, assessments, and recommendations. Journal of Engineering Education, 106(4), 607-638. doi:10.1002/jee.20180

Jacobs, G. M., Renandya, W. A., & Power, M. (2016). Simple, powerful strategies for student centered learning. Cham: Springer International Publishing.

Thai Hoai Minh and Dao Thi Hoang Hoa (2020). Foundation on theory and methodology of teaching chemistry. Ho Chi Minh city.